Thanh niên kia chầm chậm lắc đầu, hất mặt ra vẻ “chú thì biết cái gì”, rồi nói tiếp:
Chết là đương nhiên đó chú. Nhưng trước khi chết còn mấy trò ghê hơn nhiều.
Lúc đó một phụ nữ phốp pháp, mặt tái xanh vì còn sợ hãi, hai tay che ngực, ngước lên hỏi:
Cái gì ghê hơn chết vậy chú em?
Thanh niên da ngăm đen, rắn rỏi trả lời:
Coi như mọi người ở đây may mắn rồi đó, vì nhiều ghe khác sau khi tụi cướp lên tàu, nhất là gặp băng cướp mặt quỷ thì tụi nó cướp hết tài sản, đàn ông con trai đều được cho “ăn kẹo đồng” rồi bị quăng xác xuống biển, đàn bà con gái, nhất là gái trẻ thì… Hừ hừ… Mọi người tự hiểu đi ha.
Sau khi nhìn một vòng những người cùng thuyền với mình, thấy vẻ mặt hoảng sợ của mấy phụ nữ, thanh niên đó mới nói tiếp:
Nữ đẹp đẹp là bị tụi nó lấy làm đồ chơi cho tới chết luôn. Ai còn ngáp ngáp, chưa chết thì tụi nó chơi xong cũng cho ăn đạn, rồi quăng xác xuống biển, vì “nguồn” đàn bà con gái đi vượt biên bây giờ nhiều lắm.
Nghe xong thì trong đám phụ nữ, con gái có vài tiếng ré lên. Ai cũng cố gắng bịt miệng mình lại, khép chặt hai chân, ánh mắt lo lắng hoảng sợ nhìn những người đàn ông chen chúc quanh mình với vẻ đề phòng. Chưa nghe thì thôi, nhưng nghe chuyện kinh khủng của đám cướp mặt quỷ kia xong, cánh phụ nữ đều nhìn các nam nhân không phải người trong gia đình với ánh mắt sợ hãi. Một số còn len lén nhìn xuống háng đám đàn ông sát bên, rồi thầm hoảng sợ khi thấy hầu hết cu bự cu nhỏ đều dựng lên hết. Cong có, thẳng có, đầu lõ có, đầu còn mớ da tum túm cũng có luôn. Nỗi sợ đám cướp kia lúc này lại đổi thành sợ chính những người cùng thuyền với mình. Đang trần truồng chen chúc nhau trên ghe, bao quanh là biển rộng mênh mông như vầy, lỡ mà thú tánh của đám đàn ông mất kiểm soát… Rất nhiều nữ nhân không hẹn mà cùng thi nhau rùng mình, khoanh tay trước ngực che đi cặp vú, khép chặt hai đùi lại hơn nữa. Nhất là một vài thiếu nữ càng cố gắng co rúc mình lại, muốn giấu đi cái bướm non mơn mởn khỏi ánh mắt như có như không của một số đàn ông trên ghe.
Thanh niên ngăm đen kia như không biết những phản ứng đó của cả hai giới, lại nói tiếp:
Cái này mọi người nghe thấy ghê không?!
Đàn bà con gái trên ghe ai cũng gật đầu, người nào cũng đồng ý là quá ghê.
Gã thanh niên nói tiếp:
Còn chưa có ghê đâu. Vì nếu mà xui hơn, gặp con nhỏ nào nhan sắc mặn mòi, thì tụi nó thi nhau hãm hiếp xong, không giết ngay, mà bắt nhốt dưới hầm ghe, thả trần truồng như nuôi thú. Cứ để dành đó cho tụi nó xả cơn thèm khi đi biển lâu ngày. Qua những ngày sống không khác gì bị tra tấn đó, những cô gái, em gái đó vẫn không thoát khỏi kết cục làm mồi cho cá, ngay khi cái ghe cướp biển đó quay đầu vô bờ.
Lại có những tiếng ré lên sợ hãi của đám phụ nữ, trẻ em. Họ cảm thấy thú tánh tới đó là cùng. Không còn gì để nói.
Thanh niên lại nói tiếp:
Nên những ai sống ven biển như tui đều quen luôn cảnh xác người dập dìu trôi vô bờ theo từng đợt thủy triều lên. Thủy xuống thì xác nằm lềnh bãi biển. Thời này, tui là dân biển thiệt, nhưng có đi đánh cá, câu mực lên cũng hông dám ăn. Ai biết tụi nó có ăn xác người không. Mà chắc là có rồi, tránh sao khỏi. Chết dữ quá mà.
Lần này không còn tiếng ré nào nữa. Mọi người cả nam lẫn nữ, gần như chết lặng hết rồi.
Ghe vẫn lênh đênh, chạy tạch tạch hướng vô đất liền, vì mọi thứ từ nước uống, lương thực, kể cả dầu chạy ghe đều bị tụi cướp lấy gần hết sạch, chỉ chừa lại đủ cho ghe chạy vô bờ chứ không thể tiếp tục chạy ra hải phận quốc tế được nữa.
Trên đoạn đường dài dòng và buồn chán đó, hắn lại nghe thanh niên kia kể tiếp chuyện của băng cướp mặt quỷ.
Thanh niên đó ngồi sát bên cạnh hắn, có vẻ tám cũng hợp nên sau một buổi, nó hỏi hắn:
Huynh biết tại sao băng cướp đó có tên mặt quỷ không?
Hắn ngớ người. Xong trả lời:
Thì tụi nó dữ như ác quỷ nên người ta kêu vậy đúng hông?
Sai rồi. Do hình xăm ở mặt trong cẳng tay trái thằng trùm băng cướp đó.
Hình xăm mặt quỷ hả?
Ừa. Mà huynh biết tại sao có hình xăm đó không?
Hic. Sóng nó nhồi não anh bấy nhầy rồi. Chú em đừng có đố anh nữa.
Ờ ờ. Cái hình xăm đó có một câu chuyện á.
Xong tay thanh niên bắt đầu kể, giọng nó hòa với tiếng sóng vỗ “phạch phạch” dưới lườn ghe, và tiếng “tạch tạch” của máy nổ sau đuôi ghe.
Hồi vừa giải phóng xong người ta đi vượt biên quá trời. Băng cướp đó cũng là một trong mấy băng cướp biển đầu tiên, chuyên cướp của người dân đi vượt biên như mình. Trong một chuyến ra khơi, tụi nó cướp được một ghe toàn nhà giàu, trên đó người ta đem theo súng của Mỹ nữa, nên bắn qua bắn lại, đám cướp bị bắn chết hai ba thằng gì đó. Mà một hồi bắn nhau ì xèo, cuối cùng tụi nó vẫn cướp xong. Đàn ông với con nít nhỏ tụi nó bắn chết hết tại chỗ rồi, trả thù cho hai thằng cướp bị chết. Đàn bà con gái trẻ thì tụi nó hãm hiếp toàn bộ, xong cũng bắn hết. Mà trong đó còn dư một đứa con gái nhỏ, còn nhỏ lắm, nghe nói mới có kinh gì à.
Nghe tới đây hắn giật mình, tròn mắt ngó qua tay thanh niên, hỏi:
Sao dư ra? Là còn sống đó hả?
Tay thanh niên gật đầu, sau đó hạ giọng:
Hình như tụi nó chê con nhỏ còn nhỏ quá, với lại đang có kinh, chảy máu gì đó, tụi nó chê, sợ chơi thì xui. Với lại chuyến đó đàn bà con gái đẹp cũng nhiều, mặc sức mà chơi, nên cuối cùng không biết sao lại dư ra con nhỏ đó.
Rồi sau cũng bị tụi cướp bắn chết hả?
Đâu có. Thằng đại ca kêu nhốt con nhỏ lại dưới hầm ghe á, cùng với vài đứa con gái đẹp nhất ghe đó.
À à. Chà! Gái đẹp khác thì hiểu, còn nhỏ này nhỏ xíu, nhốt lại để chi ta? Hay là cũng để …
Đoán đúng rồi đó huynh! Cướp xong tụi nó quầng ghe chạy mấy bữa, mà không cướp được ghe nào khác nữa. Ngày nào cũng thay nhau hãm mấy con nhỏ đẹp nhốt chung đứa nhỏ nhất kia á. Tối đó cả đám tính là nếu vẫn không cướp được gì thì sáng hôm sau quay vô bờ, lấy nước với đồ ăn tiếp tế. Nên tối đó tụi nó lôi vài con nhỏ đẹp đẹp ra hãm, xong bắn chết. Đứa nhỏ nhất kia cũng bị lôi lên boong ghe chơi rồi tính cũng bắn chết luôn như mấy đứa lớn vừa nãy.
Không sợ … đèn đỏ nữa hả?
Ơ ơ… hình như ngày đó con nhỏ sạch rồi. Nhốt dưới hầm ghe cũng mấy bữa mà.
À à. Thì ra là vậy. Ủa, mà tưởng tụi nó chê con nít chứ.
Cũng hông biết nữa. Chắc sắp quay vô bờ rồi nên cứ làm đại luôn, con nít nhưng nó vẫn có cái lỗ đó mà.
Thanh niên hạ giọng khi nói hai chữ “cái lỗ”. Có vẻ đề tài này nhạy cảm quá nên không dám bi bô cái miệng như bình thường, nhưng ánh mắt nó nhìn hắn ra vẻ “anh em mình hiểu vụ kia là gì rồi ha”.
Hắn nghe vậy thì gật đầu, kín đáo liếc qua đám đàn bà con gái đang rúc hết vô thành một đám ở một góc ghe, có cả vợ con hắn trong đó. Ai cũng gật gù thiu thiu ngủ, hoặc cũng cố nhắm mắt để chịu đựng từng cơn sóng nhồi, cùng cái nắng như thiêu bên trên bầu trời.
Hắn quay qua tay thanh niên, hỏi:
Vậy là con nhỏ, à không, em bé đó cuối cùng vẫn không thoát bị … hãm sao?
Tay thanh niên hạ giọng, mặt đầy vẻ mập mờ, nói:
Sao thoát được. Tụi nó đè con nhỏ ra hãm luôn. Mà thằng đại ca là đứa lên đầu tiên á.
Hắn gật đầu, nhăn mặt than:
Khổ thân em bé! Còn nhỏ quá mà đã phải thành đàn bà rồi.
Tay thanh niên gật gù đồng cảm, nói:
Tội thiệt chớ. Đàn ông con trai bự như thằng đại ca mà lại hãm hiếp em bé mới có kinh à. Còn trinh nữa chớ.
Trời đất. Con gái người ta mới có kinh mà, làm sao …mất trinh trước đó cho được.
Hai chữ “mất trinh” hắn càng hạ giọng nhỏ hơn cả tay thanh niên.
Ừ ha. Huynh có lý.
Mà liên quan gì tới tên “mặt quỷ” của băng cướp đó?
À à. Lỡ sa đà vô “lol” với “trinh” nên quên. Huynh thông cảm! Lúc lôi con nhỏ lên boong cuối cùng, thằng đại ca kêu cả đám đàn em bu lại, đứa giữ tay, đứa níu giò, đứa banh lol con nhỏ ra cho nó hãm. Vừa hãm vừa cười sằng sặc.
Đến đoạn này tay thanh niên hạ giọng nhỏ xíu như muỗi kêu
Tánh thằng trùm đó dã man, thích nghe con gái kêu la lúc nó hãm người ta.
Dã man!
Đúng đó. Cướp mà huynh. Xong tới lúc nó ra, đang phê thì không biết xui khiến kiểu gì, con nhỏ quay qua cắn vô cánh tay thằng đại ca đang chống kế bên mặt con nhỏ.
Hắn trố mắt lên nói:
Đứa nhỏ cũng dữ dằn thiệt. Cũng đáng đời thằng cướp lắm.
Thanh niên gật gật nói:
Đáng đời thiệt. Đám đàn em đâu có để ý, đứa lo giữ tay, đứa lo nhìn xuống… xuống … chỗ đó của hai người, đâu có thấy thằng đại ca bị con nhỏ cắn chảy máu.
Hắn ngạc nhiên hỏi:
Ủa, sao thằng đó không rút tay ra mà để cho con nhỏ cắn chi vậy.
Thanh niên cười nham nhở, hạ giọng nói vô tai hắn:
Lúc huynh đang ra, có nhúc nhích nổi không?
Hắn ngớ ra một lúc, xong như vỡ lẽ ra, gật đầu nói:
Đúng là đáng đời. Con nhỏ cắn hay lắm! Quá đúng thời điểm!
Ờ! Thằng đại ca đang ra, bị cắn chảy máu ròng ròng luôn, mà rú lên thì đám dàn em lại cười sằng sặc, tưởng là nó đang phê, nên xúm nhau cười hô hố theo, có thằng còn hú hét búa xua, chỉ trỏ cái chỗ… cái lỗ lol đang chảy máu của con nhỏ đang bị ku thằng đại ca ghim vô á.
Giống y như đám thú vật.
Huynh nói đúng đó. Y như đám thú vật. Vì vậy nên không đứa nào phát hiện thằng đại ca đang vừa sướng vừa khổ.
Hắt gật gù, có thể hiểu được tình cảnh tay đại ca băng cướp khi đó. Lúc bắt đầu xuất tinh, vừa mới sướng đã bị con nhỏ cắn chảy máu ròng ròng, thì sướng khổ lẫn lộn luôn. Không biết thằng cướp đó có gu “đặc thù” nào hay không.
Hắn hỏi:
Rồi sau đó thì sao?
Thanh niên kể tiếp:
Lúc thằng đại ca ra xong, cũng nhúc nhích được rồi, nó giãy tay ra khỏi miệng con nhỏ. Lúc này thấy tay của thằng đại ca phọt máu tùm lum, đám đàn em mới phản ứng kịp. Có thằng còn móc dao ra tính cứa cổ con nhỏ.
Hic. Dã man. Rồi đứa nhỏ đó chết như vậy hả?
Đâu có! Thằng đại ca giãy tay không ra, miệng con nhỏ nghiến chặt lắm, nhưng tay kia nó vẫn cản kịp con dao thằng đàn em lại. Xong nó xáng cho con nhỏ một bạt tai, vô ngay lỗ tai luôn.
Ặc. Quá độc ác!
Ờ. Nhưng nhờ vậy con nhỏ không bị chết đó. Chỉ xỉu ngay lập tức. Lỗ tai chảy máu luôn. Nghe nói con nhỏ bị rách bên màng nhĩ đó luôn.
Trời ơi! Riêng chuyện này thằng đó xứng đáng bị bắn bỏ.
Đúng đó. Cả đám cướp đó, à, không, mọi đám cướp biển luôn chứ không chỉ đám đó.
Thanh niên ngăm đen cũng gật gù công nhận. Cướp biển thì nên bị xử theo luật rừng, bắn bỏ ngay trên biển mới đáng đời tội ác tụi nó gây ra.
Hắn sau khi hoàn hồn, hỏi tiếp:
Vậy con bé đó thì sao? Còn cắn chặt tay thằng kia không.
Thanh niên thở dài, nhìn thẳng vô mắt hắn rồi nói
Bị xáng cho một bạt tai tới rách màng nhĩ, xỉu luôn rồi còn biết gì nữa mà cắn.
Vậy đám cướp có tha cho con nhỏ đó không? Con nít chắc tụi nó…
Hắn không dám nói đoạn cuối nữa, vì đám cướp đó mà biết thương xót là gì.
Ngược lại, thanh niên bỗng nói:
Tha chứ!
Hắn trố mắt ra không tin nổi, hỏi lại:
Thiệt hả?
Thiệt. Tha không giết, nhưng cả đám đè nó ra hãm tới sáng luôn, rồi mới tha.
Hắn ngạc nhiên, hỏi lại
Tha vậy con nhỏ cũng làm sao sống nổi. Cả đám cướp đều thay phiên nhau nhào lên… Hic hic…
Sống chớ sao không? Con nhỏ hông những tánh lì, mà sức chịu đựng cũng lì đòn lắm.
Chà chà. Rồi sau đó tụi cướp làm gì nhỏ đó nữa?
Thanh niên thở dài, nói:
Tụi nó nhốt con nhỏ dưới hầm ghe á. Do chơi thấy đã quá, hay do thằng đại ca biểu chừa lại, mà con nhỏ không bị giết, chỉ bị nhốt thôi.
Sao nói sáng đó tụi nó tính nổ máy chạy vô bờ mà. Đâu có mang người sống vô bờ được. Lộ hết.
Thanh niên trả lời:
Bởi vì vừa chơi con nhỏ xong thì trời cũng hừng sáng, tụi nó lại phát hiện có ghe đi vượt biên, nên nổ máy chạy theo cướp tiếp.
À! Thì ra…! Rồi con nhỏ đó làm sao? Cùng lắm sống được thêm mấy bữa, hay một tuần, rồi tụi kia cướp xong, trước khi quay vô bờ cũng giết người diệt khẩu mà?
Thanh niên lắc đầu, nói:
Không phải. Đám cướp đó cứ cướp được một ghe, lại … ế mấy bữa. Mà cứ lôi con nhỏ đó ra hãm hiếp tập thể là lại có ghe khác nộp mạng cho tụi nó.
Hắn đưa tay lên gãi đầu:
Ặk. Chuyện này… Chuyện này… Sao kỳ vậy ta?!
Thanh niên gật đầu lia lịa, khẳng định:
Vậy nên tụi nó dong dài trên biển cả ba tháng mấy, bốn tháng gì đó mới quay đầu vô bờ á.
Hắn trố mắt ngạc nhiên:
Gì lâu vậy?
Có gì đâu mà lâu! Dân Sài Gòn thấy lâu, nhưng đối với dân biển thì bình thường thôi huynh. Người ta đánh bắt khơi xa, đi ghe mấy tháng luôn cũng được, bắt xong có ghe thu mua cặp mạn sang cá, mực qua bán luôn, xong họ tiếp nước, tiếp dầu chạy máy ghe, tiếp đồ ăn, nước đá, muối, là có thể đi đánh thêm cá.
À. Vụ này mới nghe lần đầu đó.
Thanh niên ưỡn ngực nói
Đúng rồi. Huynh dân Sài Gòn hổng rành. Chứ tui dân biển nên rành lắm. Xóm tui cứ tới mùa cá là đàn ông đi mấy tháng mới về.
Nghe vậy hắn hơi gật gù, xong hỏi tiếp:
Vậy con bé kia lúc tụi cướp quay ghe vô bờ là nó bị giết luôn đúng hông?
Thanh niên ngẩng đầu nhìn hắn, phủ định chắc nịch:
Sai.
Hắn ngạc nhiên hỏi:
Ủa. Tụi nó làm cách nào?
Giấu con nhỏ dưới hầm ghe á. Chạy vô bờ, phân công nhau canh chừng ghe, không cho ai lạ tiếp cận.
Chà. Không sợ người ta phát hiện báo công an sao?
Không. Có ai lên được ghe tụi nó đâu mà báo. Với lại tụi nó vô bờ nhanh lắm, chủ yếu lấy thêm đạn, và cất giấu đồ cướp được á.
Hắn mới vỡ lẽ ra, nói:
À à. Thì ra là bội thu. Đám ác ôn!
Đúng rồi. Vừa mới giải phóng xong người ta đi vượt biên dữ lắm. Mấy chuyến đầu họ còn vàng nhiều. Tụi nó cướp không biết bao nhiêu vụ nên bội thu luôn. Cũng từ cái chuyến vô bờ này mà băng đó có tên là băng cướp Mặt Quỷ đó. Huynh biết sao không?
Nãy nói mà chú em kêu không đúng mà. Thôi kể luôn đi, hỏi đố hoài.
À à. Bởi vì sau 4 tháng thì cái vết cắn ở mặt trong cẳng tay trái thằng đại ca đã thành sẹo luôn. Hình dấu răng con nhỏ cắn nó lúc nó phá trinh con nhỏ á.
Hắn gật đầu, nói
Nhớ vụ đó rồi.
Thanh niên kể tiếp:
Thằng đại ca lên bờ, xong tìm một thợ xăm ngay chỗ cái thẹo đó luôn, chồng lên trên, thành hình con quỷ đầu lâu có hai sừng, há miệng nhe nanh, mà chỗ há miệng là hình cái thẹo dấu răng con nhỏ cắn á.
Hắn gật đầu, vỡ lẽ ra, nói:
Hiểu rồi. Thì ra là vậy! Sau này tại vì cái hình đó nên người ta đặt tên băng cướp mặt quỷ đúng không?
Đúng rồi. Từ chuyến vô bờ đó thì cái thẹo con nhỏ tặng cho thằng đại ca, sau khi xăm thì trở thành cái mặt quỷ.
Hắn gật gù. Chưa nói gì thì thanh niên kể tiếp:
Còn đám cướp cũng tặng cho con nhỏ cái bụng bầu chà bá.
Hắn ngạc nhiên, trố mắt lên hỏi lại:
Hả? Gì? Bầu? Giỡn hoài vậy chú em?! Con nít mới có kinh, sao có bầu được?
Một gã đàn ông ngồi cạnh hắn ở phía bên kia, đang gật gù, nghe hắn nói chuyện hơi to vậy cũng mở mắt ra, dỏng tai lên.
Thanh niên lại hạ giọng xuống thêm một bậc, cố gắng hòa lẫn vào tiếng sóng biển soàn soạt dưới sàn ghe:
Bầu chà bá luôn. Huynh thử nghĩ đi, cả băng cướp chục thằng lận, lênh đênh trên biển cả 4 tháng, mà ngoài mấy lần thỉnh thoảng cướp được ghe khác ra, hết ngày dài rồi lại đêm thâu, chỉ có tụi nó với con nhỏ…
Nói tới đó thanh niên ngừng lại, rồi lại cười với vẻ mặt “đàn ông với nhau hết mà, huynh hiểu rồi ha!”.
Hắn nghe tới đó thì con ku bự chảng dưới háng đã cứng ngắc, cứng tới mức không thể cứng hơn được nữa. Dù câu chuyện cực kỳ dã man rợ, tàn bạo, nhưng …không thể phủ nhận không thiếu phần kích thích mạnh trong đó.
Cố gắng kẹp khúc thịt cương cứng, nóng hổi giữa hai đùi, hắn kín đáo liếc nhanh xuống hạ bộ mấy thằng đàn ông lẫn thanh niên đang mở mắt, và cả giả bộ nhắm mắt và dỏng tai lên nghe chuyện, thì phát hiện ra gần như 100% đều trong tình trạng “súng đã giương nòng” như hắn hết.
Thở dài, hắn hỏi:
Rồi số phận con nhỏ đó ra sao? Công nhận con nhỏ chẳng những lì đòn, một háng nhỏ xíu mà tiếp tới chục con cu suốt 3-4 tháng, lại còn …sống dai ghê. Tới giờ vẫn còn chuyện. Hic hic…
Thanh niên ngăm đen kia hơi ngớ ra trước những câu từ “xã hội” của thanh niên Sài Gòn này. Nhưng cuối cùng vẫn nhịn mà không bình luận gì, rồi kể tiếp:
Tụi cướp đó hoành hành dữ lắm. Không rõ vì có cái hình xăm, xong có cái tên Mặt Quỷ, rồi tụi nó táo tợn hơn, hay đứa con nít có bầu kia mang lại …may mắn cho tụi nó…
Nói tới đây, như nhớ ra cái gì, thanh niên mới nhất ngang câu chuyện, giải thích nhanh:
Mà nói ngoài lề nha. Mấy huynh ở Sài Gòn xuống không rành. Chứ dân biển tụi tui kỵ đàn bà con gái lên ghe dữ lắm. Có kinh lên ghe càng kỵ. Mà tối kỵ, đó là cho mấy bà bầu bước lên ghe. Người ta còn sợ hơn là ăn cá lật úp qua mặt bên kia để ăn tiếp á.
Một người đàn ông ngồi gần đó mới nói:
Vụ ăn cá không được lật mặt này tui biết. Dân biển mà đang ăn cùng mâm, thấy ai lật con cá như vậy, họ buông đũa đứng dậy bỏ mâm cơm hết luôn.
Thanh niên gật gù nói:
Đúng đó. Họ sợ cái xui ghe cũng bị lật úp như con cá trên dĩa vậy. Mà đàn bà chửa lên ghe họ cho là còn xui hơn vụ ăn cá lật mặt nữa.
Hắn nghe vậy thì gật gù nói:
Thì ra là vậy. Mà đứa con nít đó có chửa vẫn được để cho sống. Số nó vẫn còn may.
Thanh niên đồng tình, nhưng thở dài nói:
Cũng không biết là may hay … thế nào. Một mình con nhỏ trần truồng, trên ghe có mười mấy thằng cướp lận, lúc nào cũng có thể nhào lên người nó rồi… Haiz… Nhưng dù sao tụi cướp cũng coi “điềm xui” đó thành may mắn, vì tụi nó cướp được rất nhiều. Nên quyết định để cho con nhỏ sống tới khi con bé đẻ luôn.
Lần này gã đàn ông ngồi bên kia đã không giả bộ ngủ gật nữa. Mà mở mắt ra hỏi lại thanh niên:
Con nhỏ đẻ luôn trên ghe hả chú em?
Đúng rồi chú. Đẻ luôn trên sàn hầm ghe đó.
Hắn đang nghe, bỗng nhớ ra cái gì đó, hơi ngớ ra, bật thốt:
Linh vật!
Hả? Huynh nói sao?
Hắn nhìn thanh niên, giải thích:
Tụi nó coi con nhỏ là linh vật của băng cướp á. Là một người, hay một vật mang lại may mắn cho tụi nó.
Thanh niên nghe giải thích xong, mới gật gù, vỡ lẽ ra, nói:
Chắc đúng như huynh nói quá. Chuyện này đi ngược lại dị đoan của dân đi biển, nên chắc tụi nó cho là linh vật gì đó, con nhỏ mới còn sống.
Hắn cũng đồng ý. Vụ mê tín này hắn có nghe nói sơ qua rồi. Tương tự như ăn cá, dù chiên hay hấp thì dân biển cứ để nguyên vậy mà gắp thịt ra ăn. Tới phần xương sống thì họ nhấc ra, xong ăn tiếp phần thịt bên dưới. Đang ăn cá, mà có người lạ nào lật con cá lại để ăn phần thịt bên kia, là cả bàn đứng dậy bỏ bữa ăn luôn, chứ không ai ăn tiếp mâm cơm đó nữa. Mà chuyện ăn uống đã vậy. Phụ nữ có bầu xuống ghe thì theo dân biển càng nặng vía hơn, xui hơn cả vụ lật, trở cá trên dĩa nữa.
Thanh niên nói tiếp:
Chắc đám này ăn cướp, giết người, nên tụi nó coi cái gì xui thành ra hên không chừng.
Hắn hỏi tiếp:
Vậy là con bé đẻ con cho tụi cướp luôn hả?
Thanh niên gật đầu, nói:
Đẻ luôn. Mà xui khiến kiểu gì không biết. Cái đêm con nhỏ chuyển dạ, đám cướp kia cướp nhầm một ghe dân quân biên phòng ngụy trang làm ghe vượt biên. Nên vừa xáp tới là bị bắn trả tơi tả, thằng đại ca bị bắn, cuối cùng gục chết ngay dưới chân con nhỏ luôn. Lúc đầu nó tính nhảy xuống biển trốn, mà dân quân bắn rát quá. Thấy nhảy không xong, nó rút xuống hầm ghe, tính cố thủ một lúc. Ai ngờ đang chạy thì trúng đạn, té xuống hầm ghe rồi gục chết kế bên con nhỏ có chửa đó.
Hắn cùng vài người đàn ông đang lắng nghe, tới đoạn này đồng loạt “ồ” lên một lượt.
Hắn nói:
Quả báo!
Thanh niên gật đầu, kể tiếp:
Lúc biên phòng qua ghe tụi cướp, tiêu diệt thằng cướp cuối cùng, thì con nhỏ bể nước ối, rồi nó đẻ con ngay trên sàn ghe luôn. Nước ối chảy ra thấm tới gương mặt cái xác thằng trùm cướp nằm chết kế bên.
Cả hắn và mấy người đàn ông khác đều gật gù khi nghe tới đoạn “kinh dị” này của câu chuyện.
Thanh niên kia không dừng lại, mà vẫn kể tiếp:
Mấy người biên phòng thấy con nhỏ như vậy, xúm vô đỡ đẻ cho nó. Vậy mà lại mẹ tròn con vuông luôn. Xong rồi họ chở hai mẹ con vô đất liền.
Tới đây thì ai nghe chuyện cũng thở phào, mặt giãn ra, thầm mừng cho hai mẹ con đứa bé kia. Hoặc nói đúng ra, là cả hai đứa bé kia. Ít ra đứa bé gái chửa đẻ đó không có bị giết chết như bao nạn nhân của cướp biển khác. Dù bị đám súc vật kia hành hạ suốt 9 tháng, nhưng vượt qua cửa ải địa ngục trần gian đó, cuối cùng vẫn giữ được mạng sống.
Một người đàn ông trung niên vọt miệng hỏi:
Vậy con bé đó có gặp lại gia đình nó không?
Thanh niên nhướn mày trề môi, nhún vai, nói:
Cả dòng họ nó bị cướp giết hết trong lần bị cướp 9 tháng trước rồi, còn ai đâu mà gặp hả chú.
Chà. Tội quá! Rồi nó nhỏ dại như vậy, ai nuôi nó, rồi nuôi con nó?
Thanh niên trả lời:
Biên phòng đỡ đẻ cho nó đó chú.
Mấy người đàn ông đồng loạt “ồ” lên một lần nữa.
Hắn thắc mắc:
Mà biên phòng hình như là quân đội mà. Cũng được phòng riêng để sống với vợ hả?
Thanh niên nhìn qua hắn như đang nhìn một thằng bé ngây thơ chưa biết gì, nhưng rồi vẫn trả lời nói
Phòng riêng mà có chắc mỗi doanh trại phải rộng cả mấy chục mẫu đất mới chứa hết quá. Thực ra ông đó là dân quân thôi, dạng phối hợp với lính biên phòng đi chống cướp biển, với chống… vượt biên như mình nè. Nên không phải quân đội chính quy, được về nhà thăm vợ.
Nhắc tới “chống vượt biên”, giọng thanh niên nhỏ hẳn đi. Nhưng lọt vô tai đám đàn ông, vẻ mặt ai cũng “khác lạ”. Trên ghe này ngoài mấy tài công, chủ ghe là dân tổ cức vượt biên chuyên nghiệp, còn lại ai chẳng phải dân vượt biên. Cảm tình mừng cho “đôi vợ chồng trẻ” kia tự dưng bay biến hết phân nửa. Thôi thì mừng cho đứa bé gái, dù sao có cái kết vẫn “có hậu”. Còn sống vẫn còn cơ hội. Chứ bị cướp hãm hiếp, xong giết là tiêu đời.
Đám đàn ông nghe hết câu chuyện, ai cũng nghĩ đến cảnh bé gái vừa có kinh lần đầu, mà lại bị gần chục thằng cướp hãm hiếp bất kể ngày đêm, ròng rã suốt 9 tháng rồi mang bầu, sanh con ngay trên ghe… Dù không nói ra miệng, nhưng con ku ai cũng dựng đứng, cong, thẳng, to, nhỏ gì đều lộ ra hết. Tới lúc này thực tế cũng chứng minh con ku có logic riêng, chứ không phụ thuộc quan niệm xã hội gì hết. Chỉ có phản ứng bản năng nhất của con người mới “thực” đến vậy.
Mọi người lại chìm trong im lặng, tiếng sóng đánh “rụp rụp” dưới sàn ghe nghe rõ mồn một.
Thanh niên ngồi ngẫm nghĩ một hồi, lại nói:
Cuộc đời đứa con gái đó từ lúc đám cướp biển ập qua, tính ra cũng ly kì. Lúc tụi cướp thi nhau hãm hiếp phụ nữ trên ghe, thì con nhỏ tới tháng chảy máu tè le, bị tụi cướp chê, không đụng tới. Tới hồi nó vừa sạch kinh, thì lại mất trinh, cũng là lúc nó cắn tay thằng đại ca tạo thành thẹo, đồng thời cũng cho tụi cướp cái tên Mặt Quỷ từ vết thẹo cắn của nó.
Hắn nghe vậy thì gật gù, nói tiếp:
Lúc con nhỏ đẻ con cho đám cướp, thì cũng là băng cướp bị tiêu diệt. Đúng ly kì. Mà ủa, con nhỏ đẻ con ra thì có biết con thằng cướp nào không ta?
Một người đàn ông nãy giờ chỉ nghe, chợt mở miệng nói:
Cả đám lẫn lộn như vậy sao biết thằng nào.
Thanh niên nói:
Con nhỏ kêu là con của đại ca đó.
Hắn ngạc nhiên, hỏi:
Sao nó biết?
Con nhỏ nói mặt đứa con y chang thằng đại ca.
Một ông trung niên nói:
Trời. Mốt lớn không biết nó có nối nghiệp cha nó không?
Ông khác ngồi cạnh nói:
Ác quá cha! Đứa nhỏ mới có mấy tháng đúng không? Còn chưa thôi nôi nữa mà cha trù nó ghê vậy?
Ông kia chống chế:
Tui nói vậy thôi mà. Di truyền…
Ông còn lại chặn ngay, nói:
Di truyền là một chuyện, còn do dạy dỗ nữa. Con người ta mới mấy tháng à.
Ông kia nghe vậy cũng không nói gì nữa.
Mà lần này thanh niên bỗng nói:
Là con gái!
Cả đám đàn ông đều “ồ” lên thêm lần nữa. Rồi không ai nói gì.
Chỉ có hắn sau đó lại thắc mắc:
Sao chú em biết rõ vụ này vậy? Có quen biết gì hả?
Thanh niên gật đầu, nói:
Cái nhà dân quân đó sát rào nhà tui luôn. Tui qua ngó mặt em bé luôn rồi. Dễ thương lắm.
Rút kinh nghiệm nên không ai bình luận gì về em bé nữa, sợ bị mang tiếng là “ác miệng” với con nít vô tội.
Con thuyền lênh đênh thêm nửa ngày, cuối cùng cũng cập được bờ cát.
Một số đàn ông được cử chạy lên bãi biển, tìm một làng chài, xin quần áo mặc vô, rồi mang theo quần áo phụ nữ quay trở lại thuyền đưa cho đám phụ nữ, trẻ em mặc tạm.
Kết thúc một lần vượt biên thất bại, mất hết tài sản, bị kinh sợ, nhưng còn may là không ai bị chết, hay bị bắt bỏ tù.
Lên tới bờ, mọi người chia ra từng tốp nhỏ, lần lượt tản ra mạnh ai nấy chạy để trốn biên phòng, rồi còn xin nước uống, xin thức ăn.
Riêng gia đình hắn trong hành trình về lại Sài Gòn, ngày nghỉ, đêm đi, lội bộ băng rừng, băng ruộng trong đói khát chỉ là chuyện nhỏ. Bơi qua sông sâu, nước chảy xiết trong đêm mới đúng là những lần vượt cửa tử. Vì nhiều khi phải bơi dìu cho cả vợ lẫn con, hắn tưởng mình đã tới giới hạn chịu đựng, sắp sửa buông bập dừa nước ra và chấp nhận chết chìm, vậy mà khi gần như chỉ còn một hơi nữa là không trụ nổi trên mặt nước, chân hắn lại đạp được vô lớp bùn ở bãi bồi ven bờ bên kia.
Sau cả buổi bò lết trên mặt bãi bùn bằng cả hai tay lẫn hai chân, đốt hết 200% sức lực cơ bắp lẫn ý chí cầu sinh, đưa vợ con chạm được tới bờ đất ẩm ướt, nhưng chắc chắn ở ven sông, hắn kiệt lực nằm vật ra đất.
Một lát sau, khi đã định thần lại được, ngoái cổ nhìn về phía bờ bên kia đang chìm vào đêm đen hun hút, hắn lại không hiểu sao gia đình mình vẫn sống sót cho tới giờ phút này. Không biết chờ hắn và gia đình ở phía trước còn có bao nhiêu con sông như vậy. Thực sự hắn cũng không dám nghĩ gì thêm, vì đã chết lặng rồi.
Tuy trong lòng đã “nhũn nát” ra hết rồi, nhưng suốt chuyến về gần như vượt cửa tử theo nghĩa đen này, hắn luôn là đầu têu chọc cho vợ, và nhất là con gái nhiều phen cười nắc nẻ. Trong cái miệng bi bô của hắn, đây chỉ là một chuyến “dã ngoại” của hướng đạo sinh, là dịp để cả nhà “về với thiên nhiên”, hắn là huynh trưởng, vợ là … tỷ tỷ đẹp gái, con gái là chíp hôi. Mấy lần nghe tới đó, con gái hắn đều kêu lên phản đối, nói nó là sói con, không phải chíp hôi. Nó còn lôi kéo mẹ về phe mình, khiến hắn không thể không gật đầu đồng ý.
Dọc đường xa “vạn lý”, trong tiếng “chim kêu ngựa hí”, hai cha con chơi trò hỏi-đáp với nhau về mấy con còng, con cua, cá thòi lòi, rắn, trùn, và cả rết độc nữa. Những loài cây, con gì mà hắn biết thì hắn nói cho con, mấy loài mà cả hai cha con đều không biết thì đành chịu. Bằng cách đó, cùng với ca hát, hắn đã thành công đánh lạc hướng con nhỏ khỏi nỗi mệt nhọc về thể xác, và nhất là cái đói thường trực luôn bám lấy gia đình hắn.
Có ngày từ sáng đến tối không gặp được nhà nào để xin thức ăn, trong bụng 3 người chỉ có con rắn mà hắn đập được trong bụi cỏ, vài con còng bắt được ở bãi bồi lúc triều rút, kèm những loại rau cỏ dại hái được trên đường để ăn cầm hơi, cũng để thay thế cho nước ngọt không tìm được. Cũng may ăn toàn đồ sống, nhưng hắn cũng biết tước vỏ cây đước cho cả nhà gặm, nút lấy chất chát chống tiêu chảy, điều hắn học được khi tham gia hướng đạo sinh hồi nhỏ. Nhờ vậy, suốt nhiều ngày cả nhà hắn chỉ cảm thấy khó tiêu, chứ không ai bị Tào Tháo rượt. Đang lúc cần sử dụng tới 200% sức lực để sinh tồn, mà chỉ cần bị một lần là suy kiệt, và sau đó thậm chí có thể dẫn tới cái chết bất cứ lúc nào, như khi đang vượt sông chẳng hạn, đó là chưa kể có thể kéo tụt cả gia đình lại để “gánh” cho mình.
Hành trình về lại Sài Gòn lần này không ở trên xe tải chở phạm nhân vượt biên, mà trên đôi chân trần, và cả đôi tay khi cần thiết, nên phải mất nhiều ngày sau, gia đình hắn mới đặt chân tới vùng đất chôn nhau cắt rốn của hắn.
Trong 4 lần trước đây, mỗi lần phải “quay về” như vậy, cả nhà hắn đều bị bắt lại, bị xử nhanh tội “phản bội tổ quốc”. Sau đó là bị đưa đi tù một thời gian ngắn, rồi được thả ra. Mỗi lần như vậy hắn lại đào mớ vàng khác lên để dắt vợ con đi vượt biên tiếp.
Nhưng vàng dù nhiều hơn nữa thì vẫn có giới hạn, kim cương vẫn chưa dùng tới nhưng hắn không muốn mạo hiểm chơi sát ván. Với lại thời buổi loạn lạc như vầy, kim cương cũng mất giá rất nhiều, ai cũng lo thủ vàng, hay đô la, chứ chẳng mấy ai thủ kim cương trong người như thời trước, có bán cũng không được giá.
Khi ngồi trong một căn nhà hoang ở rìa thành phố, hắn nghĩ về lần vượt biên thứ 5 này. Mất hết vàng thì chưa nói, mà ghe chìm giữa biển, rồi gặp cướp biển, xém chết, nhất là nghe câu chuyện về sự tàn bạo của đám cướp biển Mặt Quỷ, rồi hành trình lội bộ về Sài Gòn với những lần vượt sông trong đêm đen, xém chết mấy lần, nhịn đói nhịn khát…, hắn cũng như vợ con đã bị dọa cho sợ té đái.
Lần này đặt chân về tới Sài Gòn, hai vợ chồng đều nói với nhau sẽ không dám vượt biên thêm lần nào nữa. Còn muốn “đi” thì cũng phải tìm cách khác. Dù mọi biên giới trên bộ, trên biển, kể cả trên không đều đã đóng chặt, nội bất xuất, ngoại bất nhập, nhưng vợ chồng hắn tin rằng cứ tìm rồi sẽ có cách thôi.
“Quán triệt tư tưởng” xong, vợ chồng hắn đành phải ở lại Việt Nam với lý lịch “bắt mắt”: ít nhất 4 lần “phản bội tổ quốc”! Mà đó là đã dựa trên bộ lí lịch được “tẩy trắng” bằng gần 20kg vàng, chứ mà nhân dạng thật của gia đình bị lộ, thì xác định hắn đã không còn sống để ra tù sau lần vượt biên đầu tiên.
Gia đình hắn cũng không thể về lại chốn cũ được nữa. Những nơi không an toàn là những nơi mà nguy hiểm nhất. Căn biệt thự cùng mấy nhà xung quanh đều đã được biến thành nhà tập thể cấp cho ai đó. Huống hồ đã mang lí lịch mới, nhân dạng đã được “tẩy trắng” mà còn thò đầu về khu nhà cũ, thì chẳng khác nào lạy ông tôi ở bụi này, tự ra nộp mạng thì có chết cũng không oan.
Lang thang sống vất vưởng từ căn nhà hoang này tới căn nhà hoang khác cũng không phải giải pháp lâu dài, hắn lại lén vợ đào lên một ít vàng cùng đô la, ra khu chợ đen đường Tự Do mà bây giờ có tên Đồng Khởi, đổi một ít đô qua tiền Việt mới để chi tiêu. Càng trải qua cùng cực và đói khổ sau lần vượt biên thứ 5, hắn càng biết mình không thể sống vô sản theo tuyên truyền được, cũng không rõ trên đời có ai làm được như vậy không. Mà vô sản đúng nghĩa, tức là không có bất cứ tài sản nào, vậy thì đói chết mẹ, có gì hay ho? Nhớ hồi trước ’75 nghe bài Can’t Buy Me Love của nhóm The Beatles, “tiền không thể mua tình yêu, hạnh phúc”, hắn đã phì cười, kêu là “mấy thằng khùng ăn no rửng mỡ!”. Bây giờ kiểu sống “trên răng dưới dép” này lại được rần rần khuyến khích, hắn càng bỏ ngoài tai. Cứ tiền và vàng đầy túi mới sướng, ai muốn vô sản thì kệ người ta, nhưng chắc chắn không có hắn trong đó.
Năm đó là năm 1976.
Sau 5 chuyến vượt biên thất bại, thêm mấy tuần sống lay lắt qua các căn nhà hoang, cuối cùng hắn bấm bụng dắt vợ con ra ngoại thành, tìm đến khu Lê Minh Xuân, một vùng hoang hóa và hẻo lánh bậc nhất của thành phố. Hắn còn thầm tự mỉa mai, hồi xưa ở ngay quận Nhất, bây giờ chỗ ở mới cũng có hai cái “nhất” mới chịu. Nơi này nói theo tiếng Mỹ là “God forsaken place”, nôm na là đến ông trời cao cũng ruồng bỏ chỗ này, nói chi là con người.
Tới phần giấy tờ để di chuyển, thời buổi cả xã hội bị “lật úp” như bây giờ, tiến vô nội thành thì khó, phải kê khai thủ tục, hộ khẩu, tạm trú để đi xin xỏ gì đó, cả nùi mà chưa chắc được ký. Nhưng ngược ra ngoại thành định cư như hắn thì không ai quan tâm, họ còn mừng rồi cho đi ngay.
Lấy tiếng là xung phong đi khẩn hoang về vùng “kinh tế mới”, hắn dùng một ít vàng mua mấy mẫu đất đã được khai khẩn sơ sơ với giá rẻ mạt, và cũng chỉ có giấy tay với nhau chứ chẳng có bằng khoán gì. Trên miếng đất đã có sẵn 1 căn nhà gạch cấp 4, tường gạch ống không tô, mái lợp tôn khá cũ, nhiều chỗ còn bị rỉ sét đỏ lòm.
Mua xong gia đình hắn dọn vô ở luôn chứ cũng không sửa sang gì, mặc dù dưới cái nhìn của đại gia từng ở biệt thự như hắn, chỗ mới này còn thua cái chuồng heo, có sửa cũng không khá hơn được. Biết vậy chứ hắn không nói ra, vợ, con hắn hình như cũng hiểu chuyện, đều không nhận xét tới “chốn đi về” này của gia đình. Ít ra có chỗ trú ngụ chính thức vẫn hơn những đêm đói, lạnh mà phải băng rừng, vượt sông như chuyến vượt biên gần nhất.
Cùng với căn nhà, hắn cũng được chủ cũ “khuyến mại” bán rẻ cho một chiếc xe đạp thồ, phía sau có hàn mấy cọng sắt cứng cáp, tạo thành một cái bệ bự chảng, khi xưa từng được dùng để thồ chiếu cói đi bán. Bây giờ xe hơi hắn hiển nhiên không còn, xe mô tô Harley hay Vespa cũng không có, ít ra đã có “con ngựa sắt” này. Mai mốt muốn đi đâu, hay mua gì cũng có thể làm “chân” đi. Ở trong cái hóc bà tó này mà phải đi bộ ra tuốt ngoài thị trấn…, đến nghĩ hắn cũng không dám nghĩ tới.
Từ ngày dọn vô nhà mới, cả nhà hắn bắt đầu một cuộc sống thu mình hết cỡ, như những con chuột chũi chui rúc dưới hang, yên phận làm nông dân trên mảnh đất mới để tạm thời “lánh nạn”.
Cứ tưởng đã trải qua lần sinh tồn, băng rừng, vượt sông vừa rồi, dọn về quê sẽ ít bỡ ngỡ được một chút. Thực tế lại khác hẳn, khi phải sinh sống, định cư ở hóc bà tó này trong thời gian dài.
Hồi mới dọn về hắn cũng chưa thấy gì. Nhưng ở một thời gian hắn mới thấm câu ca dao của những người đi khẩn hoang, lập ấp thời xưa, hình thành xứ Nam Kỳ lục tỉnh bây giờ:
“Tới đây xứ sở lạ lùng, con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh.”
Trong quá trình cuốc đất làm ruộng, hắn nhiều lần cùng vợ phải hoảng sợ, hét toáng lên, vì chưa từng thấy con rết nào thân mình bự như ngón tay cái, dài hơn một gang tay người lớn như mấy con “đặc sản” có đầy ở xứ này. Cặp hàm nhọn như cái kìm của nó từng ghim vô chân hắn một lần, để rồi đau đớn kinh khủng chưa nói, hắn còn bị hành sốt cao 1 ngày một đêm mới hết. Rết thường đi chung với bò cạp độc, cứ vài nhát cuốc là gặp. Con nào cũng có cặp càng bự hơn ngón tay cái, đen mun, cái đuôi nhọn hoắc mà chích trúng chân thì cũng “lên bờ xuống ruộng” với nọc đọc của nó. Rồi nhện khổng lồ với thân mình vằn vện đủ màu, giăng tơ đầy trên các tán cây cao, mỗi khi giông gió lớn lại bị thổi rớt “lộp độp” xuống đầu, cổ người đi bên dưới, khiến vợ và con gái hắn nhiều phen khóc thét.
Đó chỉ mới là côn trùng, còn nhắc tới bò sát, mà nổi tiếng nhất là dòng họ nhà rắn, thì ở vùng hoang vu này phải gọi là kính thưa luôn. Hầu như ngày nào hắn cũng đập được vài con rắn, bự có, nhỏ có, có dài, cũng có ngắn, đen có, trắng cũng có luôn, rồi ít lông hay rậm lông… à à… vụ này là em bị lậm, chứ rắn nó hổng có lông nha quý dị!
Những độc trùng rắn rết này, mới đầu cả nhà đều sợ. Nhưng riết rồi hắn thấy nhàm, tự vượt qua nỗi sợ bằng cách … ăn tuốt. Rết hắn không ăn, mà mang cho gà, tụi nó ăn tới ghiền. Tới mức mỗi khi thấy hắn cầm một cành cây nhỏ, bên trên vắt ngang một con rết đã bị đập chết, là đám gà từ xa đã bay tới mổ, tranh nhau giật đứt từng khúc con côn trùng xấu số đó ra rồi nuốt gọn, y như mớ chân đám nhện khổng lồ mà hắn bẻ ra quăng cho tụi nó, giữ lại cái mình vằn vện nướng giòn lên ăn. Với bọ cạp thì cứ đào lên được con nào, hắn ngắt đuôi với hàng chân cho gà ăn, cái mình mập ú, và nhất là cặp càng đầy thịt hắn đem nướng lên rồi ăn sạch. Vợ con hắn dù được khuyến khích, dụ dỗ, đều thà chết đói cũng không ăn mấy món “man rợ” này. Còn đối với rắn các kiểu, mấy thứ này hồi xưa ăn miết trong quán đặc sản, nên giờ mà thấy rắn hắn chỉ thấy …thức ăn thôi, vừa ngon vừa bổ nữa, nên có ngày hắn siêng đi tìm đập “của trời cho” này còn hơn đi cuốc cỏ.
Nhưng đó chỉ là những “điểm sáng” nhỏ nhoi trong một bức tranh tối hù. Bởi vì sau vài tháng không quen làm ruộng, hoặc có làm thì với cái kiểu nắng hổng ưa, mưa hổng chịu, ngại gió, sợ mù sương của dân gốc thành phố, vợ chồng hắn đành buông tay cuốc, thả tay rựa nhìn mảnh ruộng vườn mà cỏ cây rừng gặp mưa, mọc lại còn nhanh hơn tốc độ vợ chồng hắn cuốc bỏ. Thậm chí đất đai được cuốc xới qua, dây leo, cỏ dại mọc lên càng tốt um, bao phủ chằng chịt, trùm kín mấy cây con mới trồng thành một đám rừng xanh um tùm như chưa từng có dấu vết con người.
Ở nơi điện nước không có, loa phường thậm chí còn không thèm ỉa, nhầm, không thèm “phủ sóng”, có khẩn bao nhiêu thì vẫn bị hoang hóa trở lại.
Ruộng vườn dần dần hoang vu, trồng trọt không được gì, thành công duy nhất trong công cuộc hòa nhập vào giai cấp nông dân của hắn là cái chuồng gà đóng bằng cành cây tạp. Để “xây dựng” “công trình” đầu tiên trong đời này, hắn đã mất đến 5 ngày cầm búa đóng lên hết 5 …ngón tay, thay vì vô mấy cây đinh; bàn tay cầm búa cũng phồng da, chảy máu, mới xong cái chuồng!
Còn nhớ lúc kêu vợ con ra khoe thành quả “vinh quang” của 5 ngày lao động cật lực, nhìn mặt hai người đang cố sức rặn ra nụ cười cùng những lời khen có cánh, trực giác cho hắn biết cái chuồng gà của hắn xấu tệ! Hắn đẹp trai chứ đâu có ngu!
Khi thấy hắn đang hớn hở bỗng dưng ỉu xìu, con gái hắn vội chạy tới vỗ vỗ lên bắp tay hắn, an ủi:
Ít ra mấy con gà bây giờ cũng đã có nhà rồi. Mình không phải cột chân tụi nó bằng mấy sợi dây chuối như tuần trước nữa.
Nghe con nói “bây giờ cũng đã có nhà rồi”, tự dưng hắn thấy cay cay sống mũi, nhớ tới nhà cửa, tài sản ngày trước của mình giờ đã thành của người ta… Nhưng rất nhanh hắn đã gạt ý nghĩ đó qua một bên, ít ra bây giờ hắn cũng có nhà ở chỗ này, có chỗ tránh gió, che mưa, dột thì không tính. Rồi mấy con gà cũng có “nhà” được hắn đóng bằng cả tâm và huyết, theo đúng nghĩa đen, nhất là chữ “huyết”.
Từ đó, cứ mỗi sáng nhìn vợ con tranh nhau mở cửa chuồng gà ra cho tụi nó tung tăng chạy đi kiếm ăn, hắn thấy gia đình mình cũng hơi hơi giống nhà nông rồi. À, thực ra ngoài cái chuồng gà sau nhà, hắn thấy gia đình mình chả có chút gì giống nông dân hết, cái này phải nói thẳng, nói thật. Hai vợ chồng từng cuốc đất nửa tháng mà không được vài chục mét vuông, nhổ cỏ xong nhìn lại khoảnh đất vẫn còn xanh um những “mầm xanh” không mong muốn, trồng cây thì cây chết…
Không làm nông nghiệp được, nhưng ít ra hắn cũng đủ sức giữ cho mấy cọc trụ xi măng của hàng rào kẽm gai quanh đất không bị cỏ che khuất. Thấy hàng rào người ta mới biết khu này có chủ, khỏi manh nha xâm chiếm.
Riêng gia đình hắn, sau khi thất bại với việc nhà nông, vài lần hắn thử xin làm công nhân đều bị từ chối do cái phốt “lý lịch”.
Tới lúc đó hắn mới thấm mức độ “thâm nho nhọ đít” của đầu mối bán giấy tờ cho hắn. Mặc dù đã tốn hàng chục ký vàng “tẩy trắng” lí lịch, “núp bóng” bằng giấy tờ của những người đã bỏ xứ ra đi, hoặc đã chết trong biến động, nhưng đúng là trao niềm tin, gặt lại hậu quả. Lí lịch người đó trước kia lại “vướng” quá khứ cũng có của ăn, của để. Mặc dù không “tới nỗi” là đại tư sản như gia đình hắn, nhưng họ vẫn tính là có của, nên hắn vẫn bị liệt vô danh sách “không được chào đón” trong xã hội bây giờ.
Hắn tự trách tại sao hồi mua bộ giấy tờ giả này, hắn không đòi thằng cha kia cho nhà hắn lý lịch bần cố nông cho rồi. Đây mới là hot trend, là ai đồ thời bây giờ, gái thấy là bu vô như ruồi bu … à à… E hèm!
Nhiều khi ngẫm lại vụ lý lịch, hắn thấy đúng là người mua lầm, chứ người bán không lầm. Ngày định mệnh đó, hắn vừa chuyển đổi từ trạng thái ăn chơi sang phản ứng nhanh để sinh tồn, phải vận dụng bộ não lâu không dùng tới nên không thể lanh lẹ như những người bươn chải hàng ngày. Cũng may tới giờ, hậu quả không đến nổi không thể vãn hồi.
Làm ruộng không được, xin việc không xong, ngồi không ăn số vàng chôn giấu thì ngày nào đó cũng lộ tẩy. Rơi vô đường cùng, hắn đành mua một chiếc xích lô để hành nghề chở khách công nghệ “cao”.
Mua xe thì dễ, giá cả chẳng đáng bao nhiêu, vàng hắn không thiếu. Nhưng mua xong rồi vác xấp đơn đi xin giấy tờ, bảng số cho chiếc xích lô đạp đó, hắn mới thấu hiểu đoạn trường thủ tục hành là chánh nó quan liêu cỡ nào. Phải qua cả chục cửa, phải xin cả chục dấu mộc và chữ ký của “anh Ba”, “chị Bảy”, “chú Hai”… Mỗi cửa đều ngốn của hắn một mớ “kim loại có màu vàng”. Cuối cùng tiền ra bảng số còn nhiều hơn tiền mua chính cái xe. May nhờ có vàng “xin” dùm, ai mà tay không bắt giặc thì sẽ biết cái cảnh “bao giờ cho đến tháng mười?”!
Khi cầm được cái bảng số xe bằng nhôm, gắn lên sau đít chiếc xích lô cho hợp pháp, hắn mừng muốn rớt nước mắt. Coi như từ giờ phút này, hắn đã chính thức có được khả năng “mưu cầu hạnh phúc”, có thể kiếm tiền để sống, để có thể đứng chân trong cái xã hội “vô sản” này rồi, dù là ở dưới đáy.
Kể từ dạo ấy, hàng ngày thành phố mang tên Người ấy lại có thêm một thanh niên phong trần, chổng khu đi khách.
Đạp xe cả ngày khắp nội thành, đến tối hắn lại đạp xe về khu Lê Minh Xuân xa xăm ấy. Đường về vừa xấu lại vừa xa, nói ngắn gọn là “xấu xa”, để động viên tinh thần “chiến sĩ”, hắn lại rống cổ hát vang những khúc ka hào hùng tờ ráng.
Có lẽ đã từng lên voi xuống chó, nếm hết cay đắng ngọt bùi, thậm chí đã vài lần đứng ở lằn ranh sinh tử mà vẫn sống sót, dần dần tính cách tưng tửng, bựa bựa hình thành nên hắn bây giờ. Cái chất công tử Sài Gòn lịch lãm năm xưa, nay còn đâu?
Suốt thời gian Sài Gòn biến động dữ dội, mấy đứa bạn một thời ăn chơi của hắn đều đã ở Mỹ, châu Âu. Cuộc sống tụi nó đã yên ấm hay chưa, hắn không rõ, nhưng chắc chắn tụi nó đã di tản chính thức theo “quân giặc thù” thì vẫn có cơ hội ổn định tốt hơn gia đình hắn bây giờ. Dù qua trời Tây, dù có xài hết tiền mang theo, rồi tụi nó phải đi rửa chén, cắt cỏ, hay đi hái nho, đi đánh cá mướn cho người ta, có lẽ cũng không thể tệ hơn hắn đạp xích lô hàng ngày như vầy, con cái tụi nó lại được chính phủ chăm sóc một phần hoặc toàn phần, được học hành chất lượng cao, lại hoàn toàn miễn phí tới năm 18 tuổi… Càng kể ra hắn càng phát thèm.
Mỗi khi nhìn lại, hắn thấy chỉ còn mình hắn “lẻ loi” ở VN. Họa chăng còn những người khác bị kẹt lại nữa, mà thời buổi loạn lạc không cách gì biết được.
Tuy vậy, mỗi khi chở khách hắn đều kéo cái nón tai bèo bạc màu, sùm sụp xuống che mặt lại, vì sĩ diện, cũng vì lo sợ nếu gặp người quen cũ mà còn có “thù xưa”, lỡ đâu “dĩ vãng dơ dáy dễ gì dấu diếm” của hắn lại bị moi lên, cộng với chính sách chống tư sản dữ dội như bây giờ, thì kết quả không nghĩ cũng biết. Mà ác một nỗi, hồi xưa thù oán trong lớp thanh niên cùng lứa thì hắn …chưa bao giờ thiếu. Một thời ăn chơi, nhà giàu, thế mạnh, hắn không sợ bố thằng nào. Nhưng bây giờ mới chỉ là con thằng nào hắn cũng đã sợ rồi, nói chi tới bố!
Có của mà không dám xài, đến thở mạnh hắn còn không dám, nói chi là… trung tiện, nên đạp xe từng ngày, hắn phải ky cóp từng đồng bạc cắc để lấy đó mà chi dùng. Những đồng tiền lúc trước hắn gán cho cụm từ “tiền lẻ”, và chẳng bao giờ đếm hoặc thậm chí “bo” luôn cho người ta khi mua bất cứ thứ gì, bây giờ lại được hắn “lượm” kỹ. Hắn cảm giác con người mình bắt đầu … tủn mủn đi, nhưng thời đói kém dữ dội này ai dám rộng rãi?! Nên riết rồi cũng quen, hắn không thấy dằn vặt gì nữa.
Chỉ bằng những đồng tiền đạp xích lô, nếu sống trong nội thành có lẽ phải chật vật mới kiếm đủ cái ăn cho 2 vợ chồng và đứa con. Dù vậy hắn vẫn giữ được thói quen hồi đó, mỗi khi ngả lưng xuống là ngủ như chết, dù ngày mai trời có sập xuống cũng không thể tệ hơn những gì hắn đã từng trải. Nhờ những giấc ngủ ngon, mỗi sáng thức dậy hắn luôn thấy tinh thần được thêm gia cố, để tiếp tục chống chọi với những biến loạn ngoài kia.
Cái đói ăn thời bao cấp lại không ảnh hưởng gì đến thể hình của hắn. Nói ra thì ngược đời, nhưng sự thật là như vậy.
Thời nay trong nội thành, gạo để nấu cơm hầu như không đủ ăn, mọi người phải độn thêm bo bo, khoai mì, khoai lang trong “nồi cơm”. Những lúc đạp xe chở khách trên Sài Gòn, qua lời than thở của khách, hắn hình dung được cảm giác “mở nồi cơm ra toàn là khoai”, hoặc tới bữa ăn “nhìn nồi cơm gạo mốc, đem đổ thì đói, ăn vô thì nuốt kèm cả nước mắt”… Những cảnh đời khốn khó qua những câu chuyện cứ lần lượt trôi qua trước mắt hắn.
Để đồng cảm hơn với những người cùng khổ, nhà hắn thường xuyên ăn cơm độn …tôm cá. Dù sao ở quê có 1 cái lợi, là tôm cá ăn quanh năm không hết, thừa mứa đến mức đôi khi thấy cá tôm dưới mương cạn cũng chẳng thèm bắt, trừ khi muốn bắt về cho gà ăn. Nói ra nghe có vẻ chảnh, nhưng với miếng đất rộng mấy mẫu, có cả ao, kênh mương đủ kiểu, tốc độ sinh sản của cá tôm nhanh gấp mấy lần khả năng tiêu thụ của 3 người nhà hắn, chưa nói tôm cá hoang bên ngoài. Cả nhà hắn ăn tới ngán thì được, chứ không thể ăn hết. Đi làm về, muốn ăn cá hắn chỉ việc đào trùn, cắm câu quanh nhà, tối cầm đèn dầu đi soi một vòng là đã có cái ăn cho cả tuần.
Chưa kể lâu lâu đặt bẫy được con chồn, hoặc bự hơn là con heo rừng, thì coi như cả nhà được ăn tiệc cả tuần, đó là “ăn độn” kiểu gia đình hắn. Còn ăn theo khẩu phần bao cấp, được phân chia qua tem phiếu ở nội thành, mỗi hộ gia đình một tháng được mua 2kg thịt heo, thì một con heo rừng của hắn ăn tới Tết cũng còn dư.
Với chế độ “ăn độn” đầy “kham khổ” như vậy, tối ngủ ngon, sáng nào cũng tập thể dục mà không bỏ một bữa nào, rồi sau đó lại chổng khu đạp xe khắp Sài Gòn, thể hình hắn gần như vẫn ngon lành, thậm chí còn phong trần, rắn rỏi hơn thời còn là công tử bột, nhất là cặp giò cuồn cuộn cơ bắp mỗi ngày đang giúp hắn kiếm tiền nuôi vợ con, và hai bắp tay nở nang từ việc hít xà đơn mỗi sáng.
Nhiều khi ế, đậu xe ở cột điện chờ khách, trong lúc nằm gác chân lên trán ngó xe cộ qua lại, hắn cảm thấy giải phóng xong có lẽ mình cũng không đến nỗi nào. So với nhiều người ngoài kia thì mình sống cũng hơi bị được. Vàng, kim cương, tranh quý, đồng hồ gì đều tìm được hết, hắn cũng đào lên đem về giấu ở gần nhà cho chắc. Body hắn vẫn ngon lành, vẫn ham muốn chuyện đó mạnh mẽ. Tuy nhiên, sống trong thời đại vô sản “rực rỡ” này, hắn làm sao dám ăn chơi gì nữa, cũng làm sao dám chê cái lol sẹo “thấy ghê” của vợ như hồi xưa, có mà “xài” đã là may rồi. Mới nghe thì có vẻ đây là hoàn cảnh “vàng” để hai người “hâm nóng” lại chuyện giường chiếu đã nguội lạnh gần một thập niên.
Nhưng thực tế lại rất khác.
Bởi vì trải qua thời gian biến động xã hội, cơ thể hắn vẫn giữ form rất tốt, nhưng vợ hắn thì không.
Các lớp thể dục thẩm mỹ, hay khiêu vũ gần như bị dẹp hết. Cho dù còn hoạt động thì cũng ở tuốt trong nội thành, còn ở cái xứ chim không thèm ỉa này, mở ra cho khỉ tới tập chắc?! Cái thời mấy em rảnh háng đi tập thẩm mỹ, nhảy đầm, nhảy đực gì đó đã là em của ngày hôm qua rồi. Thời bây giờ các chàng trai phải đi lái máy cày, còn bao cô gái phải ngồi máy cấy thì mới đúng trend nha quý dị!
Từ Lê Minh Xuân không thể vô nội thành đi tập được, đó là chuyện không tưởng. Chốn sình lầy này lại càng không thể chạy bộ, có chạy cũng không thể mua được giày tập. Còn tập hít xà, hít đất như hắn thì vợ không chịu, sợ cơ bắp gân guốc, nên những ngày ăn không ngồi rồi đã góp phần “bơm” vào thân hình vợ hắn một cơ số mỡ, gần gấp đôi trọng lượng trước kia của cô nàng.
Ham muốn của vợ hắn cũng giảm theo cấp số nhân. Số lần quan hệ vợ chồng hắn từ 2 lần mỗi ngày hồi mới dọn về đây, giảm xuống còn 1-2 lần mỗi tuần. Với đà tăng trọng tuần sau cao hơn tuần trước, tháng sau nặng hơn tháng trước, vợ ngày càng biếng nhác. Cũng “nhờ vậy” đã vuột mất nhiều cơ hội xin việc trong các xí nghiệp quốc doanh, kể cả khi người ta đã “nhẹ tay” hơn khi xét lý lịch của nữ giới.
Thời nay kinh tế tư nhân chánh thức đều đã bị “tiêu diệt” sạch sẽ, cho nên không xin được công việc trong quốc doanh, gần như chỉ có đạp xích lô, hoặc đi lượm hột sầu riêng trong các bãi rác tự phát bên đường, rồi về luộc chín, xỏ que bưng đi bán dạo ở các bến xe khách. Không làm mấy nghề đó, còn lại chỉ có đi móc bọc ve chai thôi, cái nghề mà vợ hắn dù chết cũng không làm.
Quay lại chuyện “yêu”, từ hồi vợ mập hết “cốt”, mỗi lần “yêu” vợ hắn thấy chẳng khác nào một cuộc đua nước rút, nhanh chóng mặt. Vợ luôn muốn hắn “càng nhanh càng tốt”.
Chưa kể cái bụng mỡ đó hình như luôn khiến vợ khó thở khi hắn nằm đè lên trong tư thế cổ điển. Mà hầu như mọi tư thế hắn chơi đều làm vợ thấy nhanh mệt, khó thở, choáng váng.
Nhiều lần hắn than phiền với vợ về “nhu cầu” không được đáp ứng, đổi lại là thái độ không quan tâm của “con heo”.
Cảnh hai vợ chồng trần truồng, đỏ mặt tía tai cãi nhau trên giường là bình thường, còn mặc đồ mà cãi nhau bên ngoài phòng ngủ mới nghiêm trọng.
Trong một lần “vợ chồng tương kính như tân”, hăng hái dùng lời lẽ “nhỏ nhẹ” để “nói chuyện” với nhau cạnh chuồng gà, như cảm giác được gì đó, hắn liếc qua chỗ cửa bếp thông ra sau nhà, thì thấy đứa con gái nhỏ của mình đang sững sờ nhìn vợ chồng hắn. Gương mặt ngây thơ đầy sợ hãi, con nhỏ khóc sướt mướt, nước mắt rơi lã chã. Chỉ thấy vậy, cơn bực bội bỗng như bong bóng xì hơi, hắn thôi cãi với vợ.
Cũng từ dạo đó, chuyện sex cũng chấm dứt. Hai vợ chồng chỉ còn ngủ chung giường.
Nhiều tháng trôi qua, tình hình không sáng sủa thêm chút nào. Hai vợ chồng không còn khẩu chiến công khai, nhưng chiến tranh lạnh vẫn âm ỉ, chực chờ cơ hội bùng nổ.
Dù thường xuyên kình chống nhau, nhưng trong chuyện xin việc cho vợ, hắn vẫn rất kiên trì. Hắn chỉ nghĩ đơn giản là có đi làm thì mới hy vọng vợ thư thả đầu óc, tánh tình biết đâu sẽ đỡ hơn bây giờ.
Nên sau rất nhiều lần cố gắng, hắn cũng xin được cho vợ một chân lao công trong một xí nghiệp nhỏ ở vùng ven, cũng không gần nhà, lại phải làm theo ca.
Gia đình có “phốt” lí lịch, nên không thể xin được vị trí ngon hơn, nhưng khởi đầu như vậy hắn thấy cũng khá ổn, từ từ rồi leo lên bằng cách khác. Cũng may người ta gật đầu nhận người mà không cần thấy mặt, theo như hồi xưa gọi là phỏng vấn tuyển dụng, còn bây giờ cải cách, họ dùng từ gì cho “thuần Việt” hắn không rõ.
Khi nhận thông báo của xí nghiệp, một cảm giác “chiến thắng” xông lên trong đầu hắn. Bần thần nhìn bản in carbon trên tay, được đánh máy đánh chữ trên tờ giấy vàng nâu đen đúa, có đóng mộc đỏ kèm chữ ký của “trùm cuối” mà hắn đã tới tận nhà để “ngoại giao”, hắn càng thấm nỗi gian nan đi xin giấy tờ. Vậy nhưng khi cầm về đưa vợ, hắn chỉ nói một tiếng là bả đã có chỗ nhận vô làm, cầm cái này đi tới xí nghiệp đó là được nhận thôi. Còn đoạn trường vừa qua, hắn không hề đề cập.